Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2016

4 giai đoạn của cuộc sống

 4 giai đoạn của cuộc sống


Trong mỗi giai đoạn, hạnh phúc trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào các giá trị nội tại, có thể kiểm soát và bớt dựa vào các yếu tố bên ngoài của thế giới không ngừng xoay chuyển này.


4 giai đoạn của cuộc sống

Hãy đọc bài viết để biết bạn đang ở giai đoạn nào (hay đang mắc kẹt ở giai đoạn nào), nó định hình cuộc sống của bạn ra sao và suy ngẫm về chuyện liệu bạn muốn sống cuộc đời của mình như nào?
Giai đoạn 1: Bắt chước người khác
Từ khi sinh ra ta đã cần phụ thuộc vào người khác. Chúng ta không thể đi, không thể nói, không thể tự kiếm ăn, và chắc chắc là không thể tự kê khai thuế.
Khi còn nhỏ, cách học tập bẩm sinh của chúng là quan sát và bắt chước người khác. Đầu tiên chúng ta học các kĩ năng cơ bản như đi lại và nói chuyện. Sau đó chúng ta phát triển các kĩ năng xã hội bằng cách nhìn và làm theo những người xung quanh mình. Và cuối cùng, trong những năm tháng cuối cùng của thời thơ ấu, chúng ta học cách thích nghi với văn hóa xã hội bằng cách quan sát các luật lệ và phong tục xung quanh môi trường sống của mình và cố gắng cư xử theo cách mà thường được xã hội chấp nhận.
Mục tiêu của giai đoạn 1 là dạy chúng ta cách tồn tại trong xã hội này để ta có thể tự chủ và tự chăm sóc được bản thân mình. Những người lớn khác trong cộng đồng sẽ dìu dắt ta đạt tới giai đoạn này thông qua sự trợ giúp để ta có thể tự ra quyết định và thực hiện chúng về sau.
Nhưng sẽ luôn có một số người lớn không thể chấp nhận điều này. Họ trừng phạt chúng ta vì ta được độc lập. Họ không ủng hộ các quyết định của ta. Và vì vậy chúng ta không phát triển được sự tự chủ. Chúng ta bị kẹt trong giai đoạn1, mãi mãi bắt chước những người xung quanh mình, mãi mãi cố gắng làm hài lòng tất cả những người khác để chúng ta không bị phán xét là kẻ lập dị.
Trong một cá nhân lành mạnh "bình thường", Giai đoạn 1 sẽ kéo dài đến cuối tuổi vị thành niên và giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành. Đối với một số người, nó có thể kéo dài đến cả khi họ đã là người lớn. Một vài người từng thức dậy một ngày ở tuổi 45 mới bất giác nhận ra rằng họ chưa bao giờ thực sự sống cho chính mình và tự trách móc mình đã làm gì với bao năm tháng đã qua.
Đây là Giai đoạn 1. Giai đoạn bắt chước. Luôn luôn tìm kiếm sự chấp thuận và sự xác tín. Thiếu vắng tư duy độc lập và các giá trị của bản thân.
Chúng ta phải luôn ý thức được những tiêu chuẩn và kì vọng của những người xung quanh dành cho chúng ta. Nhưng chúng ta cũng phải đủ mạnh mẽ để hành động bất chấp những tiêu chuẩn và sự mong đợi của khác khi bản thân mình cảm thấy điều đó là cần thiết. Chúng ta cần phải phát triển khả năng hành động do mình và vì mình.
Giai đoạn 2: Tự khám phá bản thân
Trong Giai đoạn 1, chúng ta học cách hòa nhập với con người và văn hóa xung quanh. Giai đoạn 2 sẽ là lúc học hỏi điều gì làm chúng ta khác biệt với đám đông. Điều này đòi hỏi chúng ta bắt đầu tự ra quyết định cho mình, tự thử thách mình, tự hiểu mình và khám phá ra điều gì khiến mình độc đáo.
Giai đoạn 2 bao gồm rất nhiều cuộc thử sai. Chúng ta thử nghiệm bằng cách sống ở những nơi mới lạ, giao lưu với những người mới, uống những đồ mới, và thử "quan hệ" với người lạ xem sao.
Trong Giai đoạn 2 của tôi, tôi rời quê hương và thăm thú khoảng 50 quốc gia gì đó. Giai đoạn 2 của anh trai tôi là đâm thẳng đầu vào hệ thống chính trị ở thủ đô Washington. Giai đoạn 2 của mỗi người sẽ khác nhau đôi chút bởi vì mỗi chúng ta đều có sự khác biệt.
Giai đoạn 2 là quá trình khám phá ra bản thân. Chúng ta thử nhiều thứ. Một số có thể thành công, 1 số có thể thất bại. Mục đích là để bạn chọn lấy cái nào đúng đắn và tiếp tục hành động.
Giai đoạn 2 kéo dài cho tới khi chúng ta bắt đầu chạm đến những giới hạn của mình. Điều này có thể làm nhiều người khó chịu. Nhưng bất kể mấy diễn giả thành công có nói gì với bạn, khám phá ra được những giới hạn của mình là một điều hoàn toàn tốt và lành mạnh.
Bạn chắc chắc sẽ kém ở khoản nào đó, bất kể bạn có cố gắng đến đâu. Và bạn cần biết chúng là gì. Tôi không được trời phú cho tài năng xuất sắc ở bất kì môn thể thao nào. Thật buồn khi học được điều này, nhưng quan trọng là tôi biết mình không giỏi mảng đó. Tôi cũng chỉ giỏi tự nấu ăn cho mình ngang với em bé làm văng món nước sốt táo khắp sàn nhà. Chúng ta đều cần phải học được rằng mình dốt thứ gì. Và biết được điều này càng sớm trong cuộc đời càng tốt.
Vậy nên, chúng ta không giỏi ở một vài món. Và rồi bạn cũng sẽ học được rằng có những thứ thật tuyệt trong ngắn hạn, nhưng rồi sẽ chán dần sau một vài năm. Du lịch thế giới là một ví dụ. Lăng nhăng với cơ số người khác là 1 ví dụ thứ hai. Uống rượu vào tối thứ 3 là ví dụ thứ ba. Còn rất nhiều nữa. Tin tôi đi.
Biết được những giới hạn của bạn rất quan trọng bởi vì cuối cùng bạn phải nhận ra chân lý rằng thời gian của bạn trên Trái Đất này không có nhiều và vì vậy bạn nên đầu tư nó vào những thứ có ý nghĩa nhất. Điều này có nghĩa là nhận ra rằng cho dù bạn có khả năng làm được điều gì đó, không có nghĩa là bạn nên làm nó. Nhận ra rằng bởi vì bạn thích kiểu người này không có nghĩa là bạn nên ở mãi với họ. Và nhận ra rằng mọi thứ đều có chi phí cơ hội và bạn không thể có tất cả.
Tôi biết một vài người không bao giờ cho phép mình cảm thấy giới hạn - hoặc là bởi vì họ từ chối thừa nhận lỗi lầm của mình hoặc bởi vì họ tự huyễn hoặc rằng mình không có giới hạn. Những người này sẽ bị kẹt lại trong Giai đoạn 2.
Có những người "cứ mãi khởi nghiệp" khi đã 38 tuổi, vẫn sống với mẹ và vẫn không kiếm ra được đồng nào sau 15 năm cố gắng. Có những "diễn viên đầy tham vọng" vẫn đang làm bồi bản và đã không đi thử vai trong 2 năm. Có những người không thể an vị vào một mối quan hệ lâu dài bởi vì họ luôn luôn có cảm giác rằng sẽ luôn có một ai đó tốt hơn xuất hiện. Họ là những người cố "lau chùi" những sai lầm như thể "giải phóng" sự tiêu cực vào trụ, hoặc "thanh trừng" tất cả những sai lầm khỏi cuộc đời mình.
Đến một lúc nào đó, chúng ta đều phải thừa nhận chân lý: cuộc đời này rất ngắn ngủi, mọi ước mơ của ta đều không thể thành hiện thực, và vì vậy chúng ta nên cẩn thận lựa và chọn thứ gì chúng ta làm tốt nhất và toàn tâm toàn ý với nó.
Nhưng những người mắc kẹt trong giai đoạn 2 dành phần lớn thời gian để tự thuyết phục mình điều ngược lại. Rằng họ như một siêu nhân. Rằng họ có thể vượt qua tất cả. Rằng cuộc đời họ là sự phát triển và đi lên không bao giờ ngừng, trong khi ai cũng thể nhìn thấy rõ ràng họ chỉ đang chạy tại chỗ.
Với những cá nhân lành mạnh, Giai đoạn 2 bắt đầu từ giữa - cuối tuổi vị thành niên và kéo dài cho đến giữa 20 hoặc giữa 30. Những ai vẫn mãi kẹt trong giai đoạn 2 thường được mọi người gọi là mắc "Hội chứng Peter Pan" - những kẻ lông bông cả đời, luôn luôn đi tìm bản thân mình, nhưng không tìm thấy thứ gì.
Giai đoạn 3: Toàn tâm toàn ý
Một khi bạn đã đẩy mình đến những giới hạn và hoặc là biết được những gì mình kém (ví dụ: thể thao, nghệ thuật nấu ăn) hoặc là hiểu rằng các cuộc vui thì cũng chúng tàn (ví dụ: hội hè, chơi điện thử, thủ dâm) thì bạn sẽ còn lại những thứ a) thực sự quan trọng với bạn, và b) bạn không đến nỗi quá tồi. Bây giờ là lúc bạn cần ghi dấu lên thế giới này.
Giai đoạn 3 là thời điểm đẹp nhất cho bạn xây dựng lâu đài cuộc đời. Bạn đã chia tay những người bạn chỉ biết kìm kẹp mình. Bạn đã tạm biệt những trò chơi vô bổ, lãng phí thời gian. Bạn đã giã từ những giấc mơ ngày xưa mà chắc chắc không thể sớm thành hiện thực.
Vậy nên bạn cần tập trung hết sức vào thứ bạn giỏi nhất và tốt nhất cho bạn. Bạn cần tập trung vào những mối quan hệ quan trọng nhất trong đời. Bạn cần tập trung vào sứ mệnh duy nhất trong đời bạn, dù là giải quyết cuộc khủng hoảng năng lượng trên thế giới hay trở thành một nghệ sĩ vẽ kĩ thuật số hoặc trở thành một chuyên gia về não bộ, hay có những đứa con đáng yêu chảy đầy nước mũi. Dù nó là gì đi chăng nữa, đây là lúc bạn hoàn thành mọi thứ mình ao ước.
Giai đoạn thứ 3 là lúc bạn tối đa hóa khả năng của mình mình trong cuộc đời này. Nó là lúc xây dựng di sản của bạn. Bạn sẽ để lại gì cho cuộc đời khi bạn ra đi? Mọi người sẽ nhớ về bạn như nào? Dù đó là một nghiên cứu đột phá hoặc một phát kiến mới tuyệt vời hay một gia đình đáng yêu, Giai đoạn 3 là lúc bạn thay đổi thế giới này khác đi một chút nhờ sợ tồn tại của bạn trên đời.
Giai đoạn 3 sẽ kết thúc khi có sự hợp nhất của 2 thứ: 1) Bạn cảm thấy như thế mình không còn gì có thể phấn đấu được nữa, 2) Bạn đã già và đã mệt và thấy rằng mình nên uống martini và chơi trò giải ô chữ cả cuộc đời còn lại.
Đối với những người "bình thường", Giai đoạn 3 thường kéo dài từ khoảng 30 tuổi tới tuổi nghỉ hưu.
Những người bị mắt kẹt ở Giai đoạn thứ 3 thường là do không biết buông bỏ đam mê của mình và luôn ham muốn nhiều hơn. Chính vì vậy họ sẽ luôn khao khát phấn đấu đến tận 70 hay 80 tuổi.
Giai đoạn 4: Di sản
Khi đến giai đoạn này, mọi người đã dành khoảng 50 năm để đầu tư vào những thứ họ tin rằng là có ý nghĩa và quan trọng. Họ đã làm được những điều tuyệt vời, làm việc chăm chỉ, đạt được mọi thứ mình có, có thể đã có một gia đình hay một quỹ từ thiện hay tạo ra 1 sự đổi thay to lớn trong chính trị hay văn hóa, và giờ họ đã toại nguyện. Họ đã đạt đến độ tuổi mà năng lượng và hoàn cảnh của họ không cho phép họ theo đuổi đam mê của mình xa hơn nữa.
Mục tiêu của giai đoạn này trở thành không chỉ tạo ra 1 di sản mà làm sao để đảm bảo nó vẫn tồn tại kể cả khi bạn đã ra đi.
Việc này có thể đơn giản là việc bạn hỗ trợ và răn dạy con cháu của mình và ngắm nhìn chúng tận hưởng cuộc sống. Bạn cũng có thể giao phó lại các dự án hay công việc của mình cho các học trò. Bạn cũng có thể là tham gia vào hoạt động chính trị nhiều hơn để khẳng định các giá trị của mình trong một xã hội đã đi qua quá nhiều xáo trộn.
Giai đoạn 4 rất quan trọng về mặt tâm lý bởi vì nó khiến chúng ta dễ chấp nhận sự thật rằng ta rồi sẽ phải chết. Bởi vì là con người, chúng ta có một nhu cầu sâu thẳm muốn cảm thấy rằng cuộc đời của mình có một ý nghĩa gì đấy. Thứ ý nghĩa chúng ta luôn luôn tìm kiếm về bản chất chính là cơ chế tâm lý phòng vệ chống lại sự khó hiểu của cuộc sống này và sự tuyệt đối cái chết. Đánh mất ý nghĩa đó, hoặc nhìn nó tuột khỏi tầm tay, hoặc từ từ cảm thấy như thể thế giới này đã rời bỏ bạn lại phía sau, không khác nào phải đối diện trực diện với sự lãng quên và để nó nuốt chửng bạn.
Bài học cần rút ra là gì?
Đi qua mỗi giai đoạn cuộc đời giúp chúng ta có thể kiểm soát hạnh phúc và sự thịnh vượng của mình tốt hơn.
Trong Giai đoạn 1, một người sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào những hành động của người khác và cần được chấp thuận để có thể hạnh phúc. Đây là một chiến lược sống kinh khủng bởi vì con người thật khó đoán và bất định.
Trong Giai đoạn 2, người ta trở nên tự lực hơn, nhưng vẫn dựa vào thành công ngoại lai để có thể hạnh phúc - tiền, sự tán dương, chiến thắng, chiến công, vvv. Chúng có thể dễ kiểm soát hơn con người, nhưng về lâu dài chúng vẫn rất khó dự đoán.
Giai đoạn 3 sẽ phụ thuộc vào 1 số ít các mối quan hệ và những đam mê mà đã tự chứng tỏ chúng đáng để theo đuổi từ Giai đoạn 2. Những thứ này đã ổn định hơn qua thử thách. Và cuối cùng, Giai đoạn 4 đòi hỏi chúng ta chỉ bám giữ vào những gì mình đã hoàn thành được và nên ngừng kì vọng quá nhiều.
Trong mỗi giai đoạn, hạnh phúc trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào các giá trị nội tại, có thể kiểm soát và bớt dựa vào các yếu tố bên ngoài của thế giới không ngừng xoay chuyển này.
Xung đột giữa các giai đoạn
Các giai đoạn sau không thay thế các giai đoạn trước đó. Chúng vượt lên trên nó. Trong Giai đoạn 2 mọi người vẫn quan tâm đến việc được người khác chấp thuận. Họ chỉ quan tâm nhiều hơn đến thứ gì khác. Trong Giai đoạn 3, mọi người vẫn quan tâm tới việc thúc đẩy những giới hạn của chính mình. Chỉ là họ quan tâm nhiều hơn đến những cam kết mà mình đã đặt ra.
Mỗi giai đoạn đại diện cho sự xáo trộn các ưu tiên trong cuộc đời mỗi người. Chính vì lý do này, mà khi mọi người chuyển dịch từ 1 giai đoạn này sang giai đoạn khác, mọi người sẽ thường trải nghiệm sự mất mát các mối quan hệ. Nếu bạn đang ở Giai đoạn 2, và tất cả bạn bè của bạn vẫn đang ở đó, rồi đột nhiên bạn hạ quyết tâm, lao vào Giai đoạn 3 để xây dựng sự nghiệp, nhưng những người bạn của mình vẫn còn đang đi tìm kiếm bản thân, sự mất kết nối căn bản giữa các giá trị của bạn và bạn bè của bạn sẽ xuất hiện và lúc đó thật khó để vẫn còn có thể chơi với nhau.
Nói chung, mọi người sẽ phóng chiếu giai đoạn của họ lên mọi người xung quanh mình. Những người ở Giai đoạn 1 sẽ phán xét những người khác qua khả năng họ có được xã hội chấp nhận hay không. Những người ở Giai đoạn 2 sẽ phán xét những người khác bằng khả năng vượt qua các giới hạn của chính mình và thử những thứ mới. Những người ở Giai đoạn 3 sẽ phán xét những người khác dựa trên những cam kết cuộc đời của họ và những thành tựu họ có thể đạt được. Những người ở giai đoạn 4 sẽ phán xét người khác dựa về những giá trị mà họ bảo vệ và những thứ họ đã chọn sống vì nó.
Giá trị của chấn thương tâm lý
Phát triển bản thân thường được mô tả như một sự tiến bộ trải đầy hoa lệ, đi từ 1 kẻ ngu ngốc đến sự giác mộ, chưa đựng rất nhiều hoan lạc, bước đi tự hào trên thảm hoa, và đập tay với 2000 người tại một buổi hội thảo mà bạn phải trả rất nhiều tiền để tham dự.
Nhưng sự thật là những chuyển giao trong các giai đoạn của cuộc đời thường được kích hoạt bởi những dư chấn hay những sự kiện cực kì tiêu cực. Một lần suýt chết. Một cuộc li hôn. Một tình bạn đổ vỡ hay sự ra đi của người yêu.
Vết thương làm chúng ta lùi lại và đánh giá lại những động lực sâu thẩm nhất và các quyết định mà mình đã đưa ra. Nó cho phép chúng ta suy tư về việc liệu những chiến lược theo đuổi hạnh phúc của chúng ta có thực sự thành công hay không.
Điều gì làm chúng ta mắc kẹt
Có một thứ làm chúng ta mắt kẹt ở mỗi giai đoạn: cảm giác chưa bao giờ là đủ
Mọi người kẹt ở Giai đoạn 1 bởi vì họ luôn cảm thấy như thể họ là một phiên bản lỗi và khác biệt với những người khác, vì vậy họ sẽ đặt mọi nỗ lực của mình vào việc làm những thứ khiến người khác hài lòng. Nhưng bất kể họ có cố gắng tới đâu, họ sẽ cảm thấy chưa bao giờ là đủ.
Mọi người kẹt ở Giai đoạn 2 bởi vì họ cảm thấy như thế họ lẽ ra nên làm nhiều hơn, tốt hơn, mới hơn, hiệu quả hơn. Nhưng bất kể họ có cố gắng tới đâu, họ sẽ cảm thấy chưa bao giờ là đủ.
Mọi người kẹt ở Giai đoạn 3 bởi vì họ cảm thấy như thế họ chưa tạo ra đủ ảnh hưởng có ích lên thế giới này, rằng lẽ ra mình có thể tạo ra nhiều thay đổi tích cực hơn trong lĩnh vực mà mình đã cam kết. Nhưng bất kể họ có cố gắng tới đâu, họ sẽ cảm thấy chưa bao giờ là đủ.
Những người ở Giai đoạn 4 vẫn cảm thấy mắc kẹt bởi vì họ lo lắng rằng di sản của họ sẽ không bền vững hay không tạo ra thay đổi lớn lao nào cho thế hệ sau. Họ bám và níu giữ lấy nó và thúc đẩy nó tới những hơi thở cuối cùng. Nhưng họ vẫn thấy chưa đủ.
Giải pháp cho mỗi giai đoạn này là hãy nhìn lại. Để vượt lên Giai đoạn 1, bạn phải chấp nhận rằng mình sẽ không bao giờ có thể làm vui lòng mọi người, và vì vậy bạn phải đưa ra quyết định cho chính đời mình.
Để vượt lên Giai đoạn 2, bạn phải chấp nhận rằng bạn sẽ không bao giờ có thể đạt được mọi thứ bạn ước mơ hay khao khát và vì vậy phải tập trung vào thứ quan trọng nhất và toàn tâm toàn ý với nó.
Để vượt lên Giai đoạn 3, bạn phải nhận rằng thời gian và năng lượng là giới hạn và vì vậy bạn phải xác định lại mục tiêu của mình lúc này là giúp những người khác quản lý những dự án ý nghĩa mà bạn đã khởi sự.
Để vượt lên Giai đoạn 4, bạn phải nhận ra rằng thay đổi là điều tất yếu, và sự ảnh hưởng của một con người, cho dù họ có tài giỏi, quyền thế, có ích tới đâu, cuối cùng rồi sẽ tan biến.
Và cuộc đời vẫn sẽ tiếp diễn.
Theo Readstation

Thứ Hai, 18 tháng 8, 2014

Phân tích Purchasing trong Bán lẻ

Phân tích Purchasing trong Bán lẻ


Đối với ngành Retail, việc phân tích và tối ưu hóa quy trình mua hàng là hết sức cần thiết và là yếu tố thiết yếu để thúc đẩy việc quản lý hàng bán ra kịp thời cũng như hàng tồn được giải quyết triệt để.
Dưới đây là các yếu tố cơ bản cần phân tích đối với lĩnh vực Purchasing như sau:
Về chiều phân tích (Dimension):

  • Đầu tiên là về sản phẩm nào cần mua (Product)
  • Mua từ nhà cung cấp nào (Vendor)
  • So sánh giá của những nhà cung cấp khác nhau (Price)
  • Phương thức thanh toán như thế nào (Payment)
  • Phương thức giao hàng ra sao (Delivery)
  • Có những kênh nào để lựa chọn mua hàng (Channel)
  • Theo dõi nhà cung cấp đó có giao đúng thời gian hay không (Late)
  • Khi mua hàng có phải đặt tiền cọc trước hay không (Prepayment)
  • Tình trạng đơn mua hàng hiện tại ra sao (Status)
  • Hàng hóa khi giao có bị trả lại hay không (Return)
  • Hay nhà cung cấp có chương trình giảm giá hay không (Discount)

Về các Measure cần phân tích: 
Sử dụng các Dimension đã có sẽ tách ra các hướng phân tích để lên report như sau:

  • Thời gian cần phân tích (Time)
    • Thời gian theo kế hoạch (Target)
    • Thời gian trong năm/quý/tháng/tuần/ngày hiện tại (Current)
    • Thời gian của năm/quý/tháng/tuần trước (Last)
    • Thời gian lũy kế tính từ đầu năm/quý/tháng tính đến hiện tại (Accumulation)
  • Tổng số tiền mua hàng là bao nhiêu (Amount)
  • Tổng tiền cần thanh toán trước cho nhà cung cấp là bao nhiêu theo (Prepayment)
    • Ngày (Date)
    • Số tiền (Amount)
  • Tình trạng hóa đơn mua ảnh hưởng thế nào (Status)
  • Số lượng hàng hóa được giao có đủ quy định (Quantity)
  • Chất lượng hàng hóa được giao như thế nào (Quality)
  • Bao nhiêu đơn hàng được giao theo (Late)
    • Đúng thời hạn (Ontime)
    • Trễ bao nhiêu ngày, bao nhiêu lần (Days/Times)
    • Giao sớm
  • So sánh giá của từng nhà cung cấp, và giá đó có đính kèm (Price)
  • Thuế (VAT)
  • Giảm giá, chiết khấu (Discount)
  • Chi phí giao hàng (Delivery Cost)
  • Đánh giá nhu cầu cần mua hàng của doanh nghiệp (Demand)
  • Bao nhiêu hàng bị trả lại và lý do (Return)
    • Lượng hàng bị trả lại (Quantity)
    • Lý do trả lại (Reasion): Hàng lỗi, hàng vỡ, sai quy định...
  • Lập KPIs để theo dõi đơn hàng và nhà cung cấp

~~~Mai Huynh~~~

Thứ Sáu, 6 tháng 6, 2014

CÁC LOẠI BẢNG FACT TRONG DATA WAREHOUSE

CÁC LOẠI BẢNG FACT TRONG DATA WAREHOUSE

Một bảng sự kiện (fact table) là một bảng gồm các phép đo (measure), số liệu (metrics) hoặc sự kiện (fact) của quy trình kinh doanh (business process). Những giá trị định lượng này được sử dụng để biết được business value của doanh nghiệp và để dự báo kinh doanh trong tương lai của doanh nghiệp đó.
Các loại bảng fact khác nhau được phân loại như sau:
  • Additive:
Additive fact là những sự kiện được tóm tắt qua tất cả các Dimension trong bảng Fact. Nghĩa là tất cả các Dimension cần phân tích đều được thể hiện trong bảng Fact. Bảng Sales_Fact là một ví dụ tốt cho loại Additive fact.

  •         Semi-Additive: 
Semi-Additive fact là những sự kiện có thể được tóm tắt cho một số Dimension trong bảng Fact chứ không phải là những bảng khác. Ví dụ như Inventory_Daily_Fact được tóm tắt thông qua Store_Dimension chứ không phải là Time_Dimension như Sales_Fact.


  •        Non-Additive:
Non-Additive fact là những bảng sự kiện không được tóm tắt cho bất kỳ Dimension hiện tại nào trong bảng Fact.
Ví dụ như bảng Fact tính toán phần trăm, tỉ lệ.


  •      Factless Fact Table:
Trong thực tế, có thể có một bảng Fact mà không chứa phép đo (measure) hay sự kiện (fact) nào. Các bảng đó được gọi là “Factless Fact tables”.

Ví dụ: Một bảng Fact mà chỉ có mã sản phẩm và khóa ngày (Product_key & Date_key) là factless fact. Rõ ràng là không hề có measure nào trong bảng này. Nhưng nhìn vào bản này có thể thống kê (đếm) được có bao nhiêu sản phẩm bán ra trong một khoảng thời gian.

***Tóm lại, một bảng Fact bao gồm các sự kiện tổng hợp thường được gọi là bảng tóm tắt (Summary tables).

~~~Mai Huynh~~~

Thứ Năm, 29 tháng 5, 2014

Cái chết oan ức của chim ưng

 

CÁI CHẾT OAN ỨC CỦA CHIM ƯNG


Mờ sáng hôm ấy, Đại Hãn - vị hoàng đế vĩ đại trên thảo nguyên Mông Cổ cùng những chiến tướng vào rừng đi săn. Khu rừng mọi hôm yên ắng, hôm nay bỗng rộn lên tiếng người cười nói, tiếng vó ngựa, tiếng chó sủa… Trên cổ tay Đại Hãn ngất nghểu con chim ưng mà ông rất mực yêu quý.

Vào thời đó, chim ưng được huấn luyện để đi săn. Chỉ cần nghe hiệu lệnh của chủ nhân là con chim bay vút lên cao nhìn dáo dác xung quanh tìm kiếm con mồi. Nếu phát hiện thấy nai hoặc thỏ, nó sẽ lao xuống như tên bắn và vồ chặt chúng. Mặt trời bắt đầu khuất dần sau các dãy núi nhưng Đại Hãn và đoàn tùy tùng vẫn chưa săn được nhiều con mồi như mong đợi.

Nóng lòng, Đại Hãn thúc ngựa vượt lên phía trước tách khỏi đoàn. Ông đã quá quen thuộc với khu rừng này. Trong khi mọi người tiếp tục đi theo con đường cũ thì ông lại chọn con đường xa hơn, chạy xuyên qua thung lũng giữa 2 dãy núi.

Sau nhiều giờ quần thảo trên ngựa dưới sức nóng của buổi chiều hè, hoàng đế bắt đầu cảm thấy khát nước. Con chim ưng vụt khỏi cổ tay ông và lao vút đi, ông tin là nó sẽ tìm được đường quay về. Chợt ông thấy có nước rỉ ra từ một ghềnh đá. Đại Hãn xuống ngựa, lấy từ trong túi săn một cái cốc nhỏ bằng bạc rồi bước đến hứng những giọt nước đang rỉ ra.

Ông kiên nhẫn và biết rằng phải lâu lắm cốc nước mới đầy. Miệng ông khát đắng nên không kịp chờ nước đầy ly, ông vội đưa ngay lên miệng chuẩn bị uống. Bất thình lình, một âm thanh vút lên từ trên không và một vật xẹt ngang tay ông, chiếc ly rơi xuống đất. Thì ra đó là con chim ưng yêu quý của ông. Con chim ưng bay tới bay lui thêm vài lần rồi buông cánh đậu giữa các vách đá bên khe nước.


Đại Hãn nhặt chiếc ly lên và một lần nữa đưa vào hứng lại từng giọt. Lần này ông không đợi lâu hơn. Khi hứng được gần nửa ly, ông nâng ly lên miệng nhưng trước khi chiếc cốc chạm vào môi, con chim ưng lại bay vụt xuống và làm rớt ly nước khỏi tay ông. Đại Hãn bắt đầu nổi giận. Ông tiếp tục lần nữa và lần thứ ba con chim ưng lại đánh đổ ly nước. Đại Hãn vô cùng giận dữ, hét lớn:

- Con vật khốn kiếp kia, sao ngươi dám làm như thế?

Đừng để ta bắt được ngươi, không thì ta sẽ vặn cổ ngươi đó! Và rồi ông hứng lại ly nước khác. Lần này trước khi đưa lên miệng uống, ông rút gươm cầm trên tay.

- Nào, đây là lần cuối cùng ta chịu đựng ngươi đó!

- Đại Hãn nóng giận hét lên thành lời. Gần như ông vừa dứt hết câu, con chim lao nhanh xuống và hất mạnh ly nước. Giờ đây, nhà vua không tha thứ được nữa. Một lằn sáng vút lên và thanh gươm của ông chém trúng con chim.

Con chim đáng thương nằm quằn quại và giẫy chết dưới chân chủ nhân nó. Không chút xót thương, Đại Hãn gằn giọng:

- Cái chết thật xứng đáng với tội láo xược của nhà ngươi.

Khi phát hiện chiếc ly bị rơi vào giữa 2 tảng đá và ông không thể với lấy nó được, ông tự nhủ ‘Ta sẽ uống nước tại con suối’. Và ông bắt đầu leo lên sườn đá dốc, ngược theo dòng nước chảy để lần đến con suối.

Khi đến nơi, con suối mà ông nghĩ thực ra chỉ là một vũng nước nhỏ, nhưng vật nằm trong đó đã làm nước trào hẳn ra ngoài. Và chính vật này khiến Đại Hãn hoảng sợ thật sự: Một con rắn lớn, nổi tiếng là loài cực độc, đang nằm chết rữa giữa vũng nước. Đại Hãn đứng khựng lại, quên cả cơn khát cháy cổ.

Ông đau đớn khi nghĩ đến hành động vừa rồi của mình, cơn tức giận nhất thời đã khiến ông vung gươm giết chết con chim yêu quý - chỉ vì nó muốn cứu mạng ông. Kể từ đó, hình ảnh con chim ưng giẫy chết trong vũng máu luôn nhắc nhở ông đừng bao giờ hành động điều gì trong cơn tức giận.

(ST)

Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

THIẾT KẾ LUẬN LÝ VÀ VẬT LÝ CỦA KHO DỮ LIỆU

THIẾT KẾ LUẬN LÝ VÀ VẬT LÝ CỦA KHO DỮ LIỆU

Thiết kế luận lý – Logical Design:

Thiết kế luận lý thể hiện các mối quan hệ (relationship) giữa các đối tượng. Kỹ thuật mô hình thực thể và mối kết hợp (ER: Entity – relationship) có thể được sử dụng cho các thiết kế luận lý của Kho dữ liệu. Mô hình ER liên quan đến việc xác định các thực thể - entities (đối tượng quan trọng), thuộc tính – attributes (các thuộc tính về đối tượng) và các mối quan hệ - relationship giữa chúng. Hình bên dưới là một ví dụ về thiết kế luận lý – mô hình ERD
ERD for Northwind
ERD for Walmart


Một thực thể là một đoạn thông tin mà ánh xạ (map) đến một bảng – table trong Cơ sở dữ liệu. Một thuộc tính là một phần của một thực thể mà được ánh xạ đến một cột – column trong Cơ sở dữ liệu.
Một định danh duy nhất (unique identifier) được sử dụng để đảm bảo dữ liệu phù hợp và không bị trùng lắp.

Thiết kế vật lý – Physical Design:

Thiết kế vật lý thể hiện phương thức hiệu quả để lưu trữ và lấy dữ liệu. Trong thiết kế vật lý, thiết kế luận lý cần được chuyển đổi thành một mô tả của các cấu trúc cơ sở dữ liệu vật lý. Hay nói cách khác, thiết kế vật lý tác động đến môi trường vật lý của dữ liệu, và được chuyển hóa từ cấu trúc của thiết kế luận lý trước đó. Tương tự như hình sau:
DW for Northwind
DW for Walmart


Thiết kế vật lý liên quan đến việc tạo ra các đối tượng cơ sở dữ liệu như bảng – table, cột – column, chỉ mục – index, khóa chính – primary key, khóa ngoại – foreign key, quan điểm – view, sequence – trình tự, phân vùng – partition…
Cuối cùng, hình sau sẽ khái quát hơn về thiết kế luận lý và vật lý:

~~~MH~~~

Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2014

Chương 2. Kiến trúc kho dữ liệu


Chapter 2: Kiến trúc kho dữ liệu

1. Kiến trúc 1 tầng


-       Kiến trúc 1 tầng không qua bước ETL
-       Người dùng cuối truy xuất dữ liệu từ các hệ thống xử lý nghiệp vụ thông qua kho dữ liệu
-       Mức kho dữ liệu có nhiệm vụ tổng hợp dữ liệu từ các hệ thống xử lý nghiệp vụ mà không qua bước ETL

2. Kiến trúc 2 tầng


-       Kiến trúc 2 tầng có bước chuyển dạng và tích hợp
-       Bước 1: Lấy dữ liệu từ các hệ thống nguồn khác nhau
-       Bước 2: Chuyển dạng và tích hợp các dữ liệu từ các hệ thống nguồn khác nhau trước khi đưa vào kho dữ liệu
-       Bước 3: Kho dữ liệu là một cơ sở dữ liệu chỉ đọc. Tổ chức kho dữ liệu để hỗ trợ quyết định. Kho dữ liệu chứa cả dữ liệu tổng hợp và dữ liệu chi tiết.
-       Bước 4: Người sử dụng truy xuất kho dữ liệu bằng các phương tiện khác nhau như công cụ phân tích và ngôn ngữ truy vấn.

3. Kiến trúc 3 tầng


-       Kiến trúc 3 tầng có bước ETL, phân theo chủ đề Data mart
-       Với kiến trúc 3 tầng, dữ liệu được làm sạch, xử lý để đưa vào kho dữ liệu
-       Kho dữ liệu phân ra thành những kho dữ liệu theo chủ đề(Data mart), đây là việc cần thiết cho những ứng dụng hỗ trợ ra quyết định theo từng nhóm người sử dụng.

4. Hệ hỗ trợ ra quyết định


Hệ hỗ trợ ra quyết định mức tổng quát gồm 3 tầng:
-       Tầng 1: Kho dữ liệu
-       Tầng 2: Hệ quản trị OLAP: ROLAP, MOLAP, HOLAP
-       Tầng 3: Tầng người dùng hỗ trợ các công cụ truy vấn, báo cáo, phân tích, khai phá dữ liệu
Chức năng:
-       Hệ hỗ trợ ra quyết định giúp những người lãnh đạo, quản lý và phân tích làm việc hiệu quả hơn
-       Hỗ trợ cho việc ra quyết định trong quản lý, kinh doanh một cách có hiệu quả và nhanh chóng

5. Phân tích kiến trúc 3 tầng



5.1 Operational Source Systems


-       Các nguồn dữ liệu thường nằm trong hệ thống xử lý giao dịch trực tuyến OLTP(On-Line Transaction Processing), hay còn gọi là TPS(Transaction Processing Systems)
-       Hiệu suất và tính sẵn sàng ở mức độ cao
-       Thường truy vấn một bảng ghi tại một thời điểm(one-record-at a time), có thể hiểu là truy vấn tại một thời điểm nhất định
-       Đây là hoạt động thông thường của các tổ chức
-       Với một hệ thống OLTP thì đáng tin cậy và phù hợp, nhưng giữa các hệ thống OLTP khác nhau thường có những xung đột nhất định
-       Các loại định dạng dữ liệu và cấu trúc dữ liệu khác nhau trong các hệ thống OLTP khác nhau

Theo giả định của Kimball và cộng sự thì:
-       Hệ thống nguồn không được truy vấn rộng và đột xuất
-       Duy trì dữ liệu lịch sử rất ít(dữ liệu quá khứ, hiện tại…)

5.2 Data Staging Area


-       Thường là phần phức tạp nhất trong kiến trúc, và liên quan đến:
o   Extraction (E - Trích xuất)
o   Transformation (T – Chuyển đổi)
o   Load (L – Tải)
o   Indexing (lập chỉ mục)

-       Công cụ ETL (ETL – tools) có thể được sử dụng
-       Kịch bản cho trích xuất, chuyển đổi và tải được thực hiện

Extraction:

-       Có nghĩa là đọc và hiểu các nguồn dữ liệu và sao chép các dữ liệu cần thiết cho kho dữ liệu vào khu vực trung gian (Staging Area) cho thao tác tiếp theo: thao tác chuyển đổi

Transformation:

-       Chuyển dạng/chuyển đổi dữ liệu (ghi rõ quy tắc chuyển đổi để chuyển sang định dạng dữ liệu phổ biến và thuật ngữ phổ biến)
-       Làm sạch dữ liệu
o   Làm kỹ dữ liệu (sử dụng kiến thức tên miền cụ thể, ví dụ: địa chỉ bưu chính để kiểm tra dữ liệu)
o   Kiểm toán dữ liệu (khám phá mẫu nghi ngờ, phát hiện hành vi vi phạm các quy định đã nêu ra)
-       Kết hợp dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau
-       Gán vào kho
-       Tập hợp dữ liệu

Load:

-       Tải dữ liệu vào kho dữ liệu

5.3 Data Presentation Area


5.3.1     OLAP là gì?

-       Viết tắt của On-Line Analytical Processing – Xử lý phân tích trực tuyến
-       Là một hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS) có hỗ trợ truy vấn, cho phép các nhà quản lý và các nhà phân tích tương tác xử lý dữ liệu.
-       Giúp người dùng dễ dàng và nhanh chóng thao tác và hình dung dữ liệu thông qua tầm nhìn đa chiều, tức là các quan điểm khác nhau.



5.3.2      Mô hình đa chiều so với Mô hình dạng chuẩn 3



Mô hình dạng chuẩn 3:

-       Một kỹ thuật thiết kế luận lý, loại bỏ dữ liệu dư thừa để giữ sự nhất quán và hiệu quả lưu trữ, làm cho giao dịch đơn giản
-       Mô hình ER cho doanh nghiệp thường phức tạp. Ví dụ như họ thường có hàng trăm, thậm chí hàng nghìn thực thể/bảng

Mô hình đa chiều:

-       Một kỹ thuật thiết kế luận lý các dữ liệu hiện tại một các trực quan, tức là dễ dàng hơn để điều hướng cho người dùng
-       Cho phép truy cập/truy vấn hiệu suất cao (độ phức tạp của mô hình chuẩn 3 lấn át các hệ thống cơ sở dữ liệu tối ưu, có nghĩa là hiệu suất kém)
-       Mục tiêu của mô hình dữ liệu hỗ trợ ra quyết định

5.3.3     Data marts


-       Data mart là kho dữ liệu có chủ đề
-       Dạng thu nhỏ của kho dữ liệu, chia kho dữ liệu thành các kho nhỏ khác nhau. Ví dụ: Bán hàng, Nhân sự, Tài chính…
-       Một mô hình đa chiều có kho dữ liệu lớn thường bao gồm 10-25 data mart. Mỗi data mart sẽ có 5-15 bảng chiều.
-       Data mart có lượng dữ liệu rất nhỏ, các nguồn dữ liệu ít hơn
-       Dữ liệu dễ dàng hơn cho quá trình làm sạch, roll-out nhanh hơn
-       Cho phép tiếp cận “trọn vẹn” với những vấn đề tích hợp rất lớn liên quan đến việc tạo ra mô hình dữ liệu rộng cho doanh nghiệp

Data mart độc lập và phụ thuộc


5.3.4     ROLAP/MOLAP servers

Extended Relational DBMS (ROLAP Servers)

-       Dữ liệu được lưu trữ trong RDB (Relational DB)
-       Lược đồ hình sao
-       Hỗ trợ phần mở rộng SQL
-       Cấu trúc chỉ mục

Multidimensional DBMS (MOLAP Servers)

-       Dữ liệu được lưu trữ theo mảng (mảng n chiều)
-       Truy cập trực tiếp đến cấu trúc dữ liệu mảng
-       Thuộc tính chỉ mục tối ưu
-       Sử dụng lưu trữ kém, đặc biệt là khi các dữ liệu thưa thớt

5.4 Metadata Respository – kho lưu trữ siêu dữ liệu



Metadata – dữ liệu của dữ liệu/thông tin về dữ liệu. Chức năng chính:

-       Định nghĩa dữ liệu
-       Nguồn gốc của dữ liệu
-       Cấu trúc của dữ liệu
-       Quy tắc cho việc lựa chọn và chuyển dữ liệu
-       Dữ liệu định tính và định lượng về dữ liệu

Nguồn hoàn chỉnh tích hợp của metadata:

-       Là trung tâm của kiến trúc kho dữ liệu
-       Hỗ trợ các nhu cầu thông tin của:
o   System developers
o   Data adminstators
o   System administrators
o   Users
o   Applications on the data warehouse
-       Cấu trúc dữ liệu rất phức tạp
-       Phải có lịch sử phiên bản đầy đủ
-       Luôn luôn được cập nhật

Metadata life cycle activities – hoạt động chu kỳ siêu dữ liệu

-       Thu thập
o   Xác định và nắm bắt siêu dữ liệu trong một kho lưu trữ trung tâm
-       Bảo trì
o   Thiết lập quy trình để đồng bộ hóa siêu dữ liệu với cấu trúc dữ liệu thay đổi
-       Triển khai
o   Cung cấp siêu dữ liệu cho người dùng với mẫu và công cụ đúng

Phân loại siêu dữ liệu

-       Adminstrative metadata

o   Gồm các thông tin cần thiết cho việc thiết lập và sử dụng một DW
o   Ví dụ: thông tin về CSDL nguồn, lược đồ DW, chiều, cấp bậc, kịch bản trích xuất, chuyển đổi, tải…

-       Business metadata

o   Điều kiện và định nghĩa kinh doanh, quyền sở hữu dữ liệu

-       Operational metadata

o   Thông tin thu thập được trong quá trình hoạt động  của DW
o   Ví dụ như thống kê sử dụng, báo cáo lỗi

5.5 End User Applications


-       OLAP tools, BI apps, DSS
-       Query/Reporting tools
-       Data mining




Chức năng của công cụ OLAP

-       Drill-down
-       Drill-up/Roll-up/Consolidate
-       Drill-across
-       Slicing and Dicing
-       Pivoting
-       Ranking

Business Intelligence (BI) apps

-       Strategic

o   Who: Strategic leaders
o   What: xây dựng chiến lược và giám sát hoạt động của công ty
o   Examples: bảng cân đối, kế hoạch chiến lược

-       Operational

o   Who: Operational managers
o   What: thực hiện mục tiêu chiến lực
o   Examples: ngân sách, phân tích dự báo bán hàng

-       Analytical

o   Who: analysts, knowledge, worker, controller
o   What: ad-hoc analyis
o   Examples: phân tích tài chính và bán hàng, phân khúc khách hàng…

Problems of Data Warehousing

-       Sự phức tạp của tích hợp

o   Vấn đề tiềm ẩn với hệ thống nguồn
o   Đồng nhất dữ liệu
o   Đánh giá thấp tài nguyên cho việc tải dữ liệu

-       Dữ liệu yêu cầu không lấy được
-       Bảo trì cao

-       Các dự án trong thời gian dài

*****MH*****